Ba chạc

6:24 chiều

Ba chạc

Tên khác:

  • Chè đắng, Chè cỏ, Cây dấu dầu.

 

Tên khoa học:

  • Euodia lepta (Spreng.) Merr.

 

Họ:

  • Cam (Rutaceae).

 

Mô tả:

  • Cây nhỡ, cao 4 – 5 m. Lá kép mọc đối 3 lá chét, có khi chỉ có 1 lá chét. Lá non có lông nhung khi vò có mùi long não. Phiến lá chét hình trái xoan; nguyên, dài 4,5 – 13 cm, rộng 2,5 – 4 cm có lông màu lông bò. Cụm hoa ở nách lá, ngắn hơn lá; lá bắc và lá bắc con nhỏ. Lá đài hình trái xoan ở ngọn hoặc có khi gần hình đĩa, có lông ở mép. Cánh hoa 4 – 5, màu trắng, trắng hơi xanh, xanh vàng, hồng, mùi khó chịu, dài gấp 3 lần các lá đài, hình trái xoan, ngọn hơi cong vào trong, nhẵn ở mặt trong và mặt ngoài. Nhị 4, toàn phần nhẵn, chỉ nhị dài bằng các cánh hoa. Hoa đực có bầu thô sơ. Hoa cái có bầu hình trứng, có lông, 1 vòi nhẵn, đầu nhụy hình đầu hay hình đĩa có 4 rãnh. Quả màu xanh rồi màu đỏ, thành cụm thưa, có 1 – 4 mảnh vỏ nhẵn, nhăn nheo ở mặt trong và mặt ngoài. Hạt hình cầu, màu đen lam, bóng nhoáng.

 

Sinh thái:

  • Cây ưa sáng, mọc trên các đồi cây bụi, bìa rừng và trong rừng thưa, thường ở độ cao 100 – 500 m. Cũng gặp ở độ cao trên 1500 m. Ra hoa tháng 4 – 5, có quả tháng 6 – 7.

 

Phân bố:

  • Rất phổ biến khắp nước ta.
  • Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Đài Loan, Lào, Campuchia, Philippin, Niu Ghinê.

 

Bộ phận dùng:

  • Rễ, thân và lá – Radix, Caulis et Folium Euodiae Leptae.
  • Thu hái rễ và lá quanh năm. Rửa sạch rễ, thái nhỏ và phơi khô ngoài nắng. Lá sấy khô hay phơi trong râm.

 

Thành phần hóa học:

  • Rễ chứa alcaloid; lá có tinh dầu thơm nhẹ.

 

Tính vị, tác dụng:

  • Vị đắng, mùi thơm, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa thấp chỉ dương, thư cân hoạt lạc, khư phong; phòng được cúm, viêm màng não hay viêm não B.

 

Công dụng:

  • Lá thường được dùng chữa ghẻ, mụn nhọt, lở ngứa, chốc đầu. Chữa các chứng nhiệt sinh khát nước, ho đau cổ họng, mắt mờ, trẻ em sốt cao sinh kinh giật. Ngày dùng 20 – 40 g lá, dạng nước sắc hoặc cao. Thường nấu nước để tắm rửa hoặc xông. Có thể phối hợp với Kim ngân hoa (lượng bằng nhau) nấu nước uống.
  • Rễ và vỏ chữa phong thấp, đau gân, nhức xương tê bại, bán thân bất toại và điều hòa kinh nguyệt. Ngày uống 4 – 12 g rễ và vỏ khô dạng thuốc sắc.
  • Ở Trung Quốc:
    • Lá được dùng:
      • Phòng trị bệnh cúm truyền nhiễm, viêm não.
      • Đột quỵ tim, cảm lạnh, sốt, viêm họng, sưng amygdal.
      • Viêm phế quản tích mủ, viêm gan.
    • Rễ được dùng trị:
      • Thấp khớp, đau dây thần kinh hông, đau lưng.
      • Ngộ độc lá ngón.
  • Dùng ngoài trị đòn ngã tổn thương, nọc rắn, áp xe, vết thương nhiễm trùng, eczema, viêm mủ da, trĩ. Liều dùng: Lá 10 – 15 g, rễ 9 – 30 g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, lấy lá tươi đắp hoặc nấu nước rửa, lấy lá phơi khô tán bột làm thuốc đắp.

 

Đơn thuốc:

  • Dự phòng cúm truyền nhiễm và viêm não. Ba chạc 15 g, Rau má 30 g, Đơn buốt 15 g, Cúc chỉ thiên 15 g, sắc uống.

 

Nguồn: Từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới) tập 1.

Bình luận

Gửi phản hồi