Ấu

12:38 sáng

Ấu

Tên khoa học:

  • Trapa bicornis Osbeck var. cochinchinensis (Lour.) Gluck. ex Steenis (T. cochinchinensis Lour.).

 

Họ:

  • Ấu (Trapaceae).

 

Mô tả:

  • Cây thủy sinh nổi, gốc dính vào bùn, có thân bồ; thân ngắn, dày, có lông. Lá ở dưới nước chìm, hình lông chim có thùy dạng sợi dài 1 – 4 cm; các lá nổi dài 4 – 5 cm, rộng 6 – 7 cm, dày, màu xanh đậm hay đo đỏ, mặt dưới có lông dày trên các gân; cuống lá dài 5 – 20 cm, hơi phù ở 1/3 trên, màu đo đỏ. Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở nách lá, cánh hoa nhăn, dài 1.5 cm. Quả bế có lông, gần như hình tim ngược, cao 2 – 3 cm, rộng 5 cm, có hai sừng cong hướng lên, dài 2 cm có gai ở đỉnh. Hạt có một lá mầm to, một lá mầm nhỏ, chứa đầy bột.

 

Sinh thái:

  • Cây của vùng cổ nhiệt đới mọc tự nhiên và cũng được trồng nhiều trong các ao, hồ, đầm, sông cụt, mặt nước. Cây không kén đất lắm.
  • Người ta nhân giống Ấu bằng quả, từ quả sẽ sinh ra những dây Ấu; dùng 4 – 5 giây này nhổ sát gốc làm một tôm để đem cây nhân giống tiếp hoặc trồng hẳn ở nơi có bùn để cho rễ bám nhanh và để lá nổi trên mặt nước; tuy nhiên trong tự nhiên, quả rụng xuống nước và tái sinh thành cây con dễ dàng lan tỏa trên diện tích rộng của mặt nước. Ra hoa tháng 5 – 6, có quả tháng 7 – 9.

 

Phân bố:

  • Mọc hoang và trồng ở nhiều nơi: Hà Nội, Ninh Bình, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp.
  • Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước nhiệt đới khác.

 

Bộ phận dùng:

  • Quả (mà ta thường gọi là củ) – Fructus Trapae thường có tên là Ô lăng. Có khi dùng cả vỏ quả và toàn cây.
  • Để làm thuốc, ta thu quả tươi hoặc quả già luộc, lấy nhân ra, bóc lấy vỏ để dành, hoặc dùng cây tươi hay phơi hoặc sấy khô để dùng dần.

 

Thành phần hóa học:

  • Trong nhân hạt có tới 49% tinh bột, và khoảng 10.3% protid.

 

Tính vị, tác dụng:

  • Củ Ấu có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bổ mát, giải nắng nóng, dã các chất thuốc có độc; ăn thì bổ ngũ tạng, no lòng không đói, yên trong bụng và nhẹ mình. Vỏ quả có tính tăng lực và hạ nhiệt.

 

Công dụng:

  • Người ta trồng Ấu để lấy quả làm thức ăn phụ hoặc để chăn nuôi, còn lá dùng làm thức ăn xanh cho gia súc.
  • Quả thường dùng luộc nấu chin ăn hay rang ăn. Từ hạt có thể chế ra một loại bột, nếu thêm đường hoặc mật làm bánh ăn ngon.
  • Người ta phân biệt hai giống trồng: Ấu gai, quả có hai sừng ngọn như gai, năng suất thấp; Ấu trụi, quả có hai sừng tù, năng suất cao, thường được trồng nhiều hơn. Người ta dựa vào hình dạng của quả để chia ra: Ấu nâng gương là Ấu đã ra quả thành thục , chưa quá già, màu nâu, lá không còn nằm ngang mặt nước mà đã lên chếch với mặt nước. Lúc này thu hoạch dễ (vì quả chưa bị rụng xuống bùn) và luộc ăn ngon; Ấu sừng trâu, quả đã già màu đã chuyển từ nâu sang đen sẫm, vỏ cứng như sừng, nhân có nhiều bột, cần thu hoạch sớm.
  • Ở Trung Quốc, cũng dùng ăn hoặc nấu rượu. Quả cũng dùng làm thuốc giải nắng nóng, dã độc, trừ rôm sẩy. Ở Trung Quốc, người ta dùng quả sao lên để chữa cảm sốt và đau đầu; còn dùng làm thuốc cường tráng.
  • Ở Campuchia, người ta chế ra một loại nước dễ uống có tác dụng chống suy nhược do bị bệnh sốt rét và các loại sốt khác.
  • Vỏ quả Ấu còn dùng chữa loét dạ dày và loét cổ tử cung; còn toàn cây dùng chữa trẻ em sài đầu, giải độc rượu và làm cho sáng mắt.

 

Liều dùng:

  • 10 – 16 g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài giã cây tươi đắp không kể liều lượng.

 

Đơn thuốc:

  • Giải trúng nắng và dã các chất độc của thuốc, dùng củ Ấu tươi giã nhỏ, chế thêm nước nguội mà uống thật nhiều.
  • Chữa rôm sẩy hay da mặt khô sạm, dùng củ Ấu tươi giã xoa.

 

Nguồn: Từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới) tập 1.

Bình luận

Gửi phản hồi